TỔNG QUAN VỀ SỎI NỘI GAN
VÀ CÁC KẾT TỤ ĐƯỜNG MẬT – ĐƯỜNG RUỘT
Tiếp cận tích hợp Y học hiện đại – Y học cổ truyền – Thanh lọc thân tâm
I. CHỨC NĂNG CỦA GAN VÀ VAI TRÒ TRUNG TÂM TRONG CÂN BẰNG NỘI MÔI
Gan là một trong những cơ quan trọng yếu nhất của cơ thể người, đảm nhiệm hàng trăm chức năng sinh lý khác nhau và có mối liên hệ mật thiết với hầu hết các hệ cơ quan. Để duy trì hoạt động liên tục của hàng chục nghìn tỷ tế bào trong cơ thể, gan không ngừng điều phối, phân phối và tái tạo nguồn năng lượng, enzyme và hormone thông qua hệ thống mạch máu, ống dẫn mật và các tế bào chuyên biệt.
Về mặt sinh lý, gan giữ vai trò:
Lá gan khỏe mạnh tiếp nhận và lọc 1,4 lít máu/phút và tạo ra 1-1,5 lít mật/ngày, chính nhờ cơ chế này đảm bảo cho mọi hoạt động trong gan cũng như toàn bộ cơ thể được thông suốt và hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, sỏi mật gây ra tắc ống dẫn mật trong gan sẽ làm suy yếu đáng kể khả năng hóa giải nhũng chất độc xâm nhập từ ngoài vào và được tạo ra trong máu. Sỏi gan làm ngăn cản gan cung cấp dinh dưỡng năng lượng thích hợp đúng nơi, đúng lúc cho cơ thể, làm cho sự cân bằng tinh tế trong cơ thể - được gọi là “cân bằng nội môi” bị ảnh hưởng, dẫn đến các hệ thống bị đảo lộn và gây căng thẳng cho mọi cơ quan trong cơ thể.
Khi dòng mật bị cản trở – dù ở mức độ vi thể – khả năng giải độc, phân phối năng lượng và điều hòa nội môi của gan có thể bị suy giảm, từ đó ảnh hưởng lan tỏa đến nhiều hệ cơ quan.
Ví dụ điển hình:
1. Điển hình cho sự xáo trộn cân bằng nội môi là nồng độ của hormone nội tiết estrogen và aldosterone trong máu. Những hormone này được sản xuất ở cả nam và nữ, chịu trách nhiệm điều chỉnh nồng độ muối và độ giữ nước. Khi sỏi làm tắc túi mật và ống dẫn mật trong gan, các hormone không bị phân giải và thải loại, khi đó nồng độ của chúng trong máu tăng lên đến mức bất thường, gây sưng mô và giữ nước. Các bác sĩ ung bướu thường con nồng độ estrogen tăng cao là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư vú ở phụ nữ.
II. SỎI NỘI GAN LÀ GÌ?
Khái niệm:
Sỏi nội gan (hay còn gọi là sỏi đường mật trong gan) là tình trạng các khối kết tụ hình thành bên trong hệ thống ống mật nằm trong nhu mô gan. Các viên sỏi này có thể tụ lại với nhau, tạo thành những chướng ngại vật làm cản trở dòng chảy của dịch mật, khiến các ống mật trong gan bị giãn, biến dạng và gây rối loạn chức năng dẫn mật.
Sỏi nội gan, sỏi đường mật trong gan có thể tồn tại dưới dạng mềm hoặc cứng và hình thành trong hệ thống đường mật, bao gồm các ống mật trong gan và ngoài gan. Về mặt thành phần, sỏi đường mật nói chung được tạo thành chủ yếu từ các tinh thể cholesterol, canxi, axit béo chuỗi dài và các sắc tố mật như bilirubin.
Sỏi mật là các khối kết tụ mềm hoặc cứng hình thành trong hệ thống đường mật. Chúng được cấu tạo chủ yếu từ tinh thể cholesterol, canxi, axit béo chuỗi dài và sắc tố mật như bilirubin. Mặc dù cholesterol chỉ chiếm khoảng 5% trong thành phần dịch mật, nhưng nó lại là thành phần phổ biến trong ít nhất 75% các loại sỏi mật. Ngoài các thành phần kết tinh chính, sỏi mật đôi khi còn chứa muối mật, nước, chất nhầy, các sản phẩm chuyển hóa, vi khuẩn và trong một số trường hợp có thể bao gồm xác ký sinh trùng, lecithin.
Kích thước của sỏi đường mật có thể dao động từ rất nhỏ như đầu kim cho đến lớn bằng quả bóng chơi golf, tùy thuộc vào thời gian hình thành và mức độ rối loạn chuyển hóa dịch mật.
Các khối sỏi trong hệ thống đường mật có tính đồng nhất khác nhau và thường được hình thành từ bilirubin bị vôi hóa, gọi là bilirubinat. Chúng có thể có màu nâu nhạt, màu đen hoặc các sắc độ nằm giữa hai màu này, tùy thuộc vào nồng độ bilirubin. Những người bị thiếu máu tan huyết hoặc xơ gan thường gặp sỏi có màu đen, trong khi sỏi màu nâu thường chứa nhiều cholesterol và canxi hơn.
Không phải mọi rối loạn liên quan đến túi mật và đường mật đều bắt nguồn từ các viên sỏi cứng có thể quan sát rõ trên chẩn đoán hình ảnh. Một số trường hợp viêm túi mật hoặc rối loạn đường mật không phát hiện thấy sỏi cứng, nhưng người bệnh vẫn xuất hiện các triệu chứng tương tự. Trong những trường hợp này, bùn mật hoặc các khối kết tụ mềm trong hệ thống đường mật hoặc ống mật chủ có thể gây cản trở dòng mật và tạo ra các biểu hiện giống viêm cấp. Trên siêu âm, các vật cản dạng bùn mật này thường khó được phát hiện do sóng âm có thể xuyên qua mà không tạo tín hiệu phản hồi rõ ràng. Các triệu chứng có thể biểu hiện ở mức độ cấp tính hoặc mạn tính, tùy theo mức độ tắc nghẽn dòng mật. Tình trạng này cũng có thể xảy ra khi lượng máu cung cấp cho hệ thống gan – mật không đầy đủ, hoặc khi khả năng co bóp và bài xuất dịch mật bị suy giảm.
Khi các khối sỏi di chuyển trong hệ thống đường mật và gây tắc nghẽn tại vùng cuống gan – mật, người bệnh có thể xuất hiện các cơn đau đường mật điển hình. Sự tắc nghẽn kéo dài trong đường mật có thể gây viêm các mô xung quanh, dẫn đến viêm túi mật và trong một số trường hợp có thể kèm theo nhiễm trùng vi khuẩn. Tình trạng viêm mạn tính kéo dài có thể gây loét và dính giữa túi mật với tá tràng hoặc đại tràng, từ đó hình thành các đường dò bất thường và rối loạn tiêu hóa mạn tính.
Đau đường mật thường đi kèm với tình trạng căng giãn của túi mật và hệ thống đường mật. Khi đường mật hoặc túi mật chứa nhiều sỏi, các cơn co thắt có thể trở nên dữ dội, gây đau đớn kéo dài và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của người bệnh.
Các rối loạn của túi mật và đường mật thường có mối liên quan mật thiết với chức năng của gan. Khi sỏi hình thành trong các ống mật trong gan, quá trình viêm và xơ hóa có thể xảy ra, làm biến dạng cấu trúc các tiểu thùy gan và ảnh hưởng đến tuần hoàn trong gan. Áp lực trong hệ tĩnh mạch cửa và hệ thống đường mật có thể gia tăng, làm rối loạn sự lưu thông của dịch mật. Các sản phẩm chuyển hóa không được đào thải hiệu quả qua đường mật sẽ dần tích tụ trong các mô, góp phần làm thay đổi môi trường dịch mật và làm tăng tình trạng ứ trệ mật kéo dài. Trong bối cảnh đó, sự hình thành các khối sỏi đường mật bị khoáng hóa chỉ còn là vấn đề của thời gian.
Như vậy, sỏi nội gan là một tình trạng khá phổ biến trong các rối loạn gan – mật, nhưng trên thực tế vẫn chưa được quan tâm đúng mức và đầy đủ trong nhiều tiếp cận chẩn đoán và điều trị hiện nay.